Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP là văn bản của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Nghị quyết này được thông qua ngày 17/4/2026 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2026.
Đây là văn bản rất quan trọng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ nợ, người lao động, Quản tài viên và các chủ thể tham gia thủ tục phục hồi, phá sản. Nếu Luật Phục hồi, phá sản đặt ra khung pháp lý chung thì Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP giúp làm rõ cách áp dụng nhiều vấn đề thực tiễn như: thành lập Ban đại diện chủ nợ, hòa giải trong vụ việc phục hồi/phá sản, hồ sơ nộp đơn, xử lý nợ có bảo đảm, giao dịch bị coi là vô hiệu, lập danh sách chủ nợ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thủ tục rút gọn và các biểu mẫu tố tụng.
Nói cách khác, Nghị quyết này là một trong những văn bản cần được nghiên cứu kỹ khi doanh nghiệp đang có nguy cơ mất khả năng thanh toán, khi chủ nợ muốn thu hồi nợ thông qua thủ tục phá sản hoặc khi Quản tài viên tham gia quản lý, thanh lý tài sản trong vụ việc phục hồi, phá sản.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng nhiều điều khoản quan trọng của Luật Phục hồi, phá sản, trong đó đáng chú ý gồm:
Thành lập Ban đại diện chủ nợ;
Hòa giải trong vụ việc phục hồi, phá sản;
Người có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi;
Người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản;
Xử lý, thụ lý đơn yêu cầu phục hồi, phá sản;
Xử lý khoản nợ có bảo đảm;
Giao dịch bị coi là vô hiệu;
Gửi giấy đòi nợ, lập danh sách chủ nợ, người mắc nợ;
Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
Giải quyết vụ việc do Tòa án, Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự chuyển hồ sơ;
Thủ tục phục hồi rút gọn;
Thủ tục phá sản rút gọn;
Thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng;
Biểu mẫu áp dụng trong thủ tục phục hồi, phá sản;
Điều khoản chuyển tiếp khi áp dụng Luật Phục hồi, phá sản mới.
Đối với doanh nghiệp và chủ nợ, những nội dung này không chỉ mang tính thủ tục mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược xử lý nợ, bảo toàn tài sản, thương lượng với chủ nợ và lựa chọn giữa phục hồi hay phá sản.
Một điểm quan trọng của Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP là hướng dẫn cụ thể về việc thành lập Ban đại diện chủ nợ.
Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi hoặc mở thủ tục phá sản, Tòa án xem xét quyết định có thành lập Ban đại diện chủ nợ hay không. Ban đại diện chủ nợ được lựa chọn từ các chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm.
Tòa án không thành lập Ban đại diện chủ nợ trong một số trường hợp, ví dụ:
Vụ việc được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
Chủ nợ đại diện từ 65% tổng số nợ trở lên có văn bản đề nghị không thành lập;
Vụ việc chỉ có từ 05 chủ nợ trở xuống.
Ban đại diện chủ nợ có 03 hoặc 05 thành viên, gồm các chủ nợ có số nợ lớn hoặc chủ nợ đại diện cho nhóm chủ nợ có số nợ lớn. Các thành viên bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban và quyết định theo đa số.
Về mặt thực tiễn, Ban đại diện chủ nợ có vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia ý kiến về phương án phục hồi và bảo vệ lợi ích chung của nhóm chủ nợ. Đối với các vụ việc có nhiều chủ nợ, việc tổ chức Ban đại diện chủ nợ giúp tránh tình trạng mỗi chủ nợ hành động riêng lẻ, gây xung đột và làm giảm giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP tiếp tục nhấn mạnh vai trò của hòa giải trong thủ tục phục hồi, phá sản. Đây là điểm rất đáng chú ý vì thủ tục phục hồi, phá sản không chỉ nhằm thanh lý tài sản mà còn hướng đến việc thương lượng, tái cơ cấu, bảo toàn giá trị doanh nghiệp.
Việc hòa giải phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản, đặc biệt là bảo đảm giá trị tài sản cao nhất của doanh nghiệp, hợp tác xã và nghiêm cấm lợi dụng hòa giải để tẩu tán tài sản.
Trong vụ việc phục hồi, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm hòa giải sau khi được chỉ định và trước khi Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoặc trước khi Tòa án đình chỉ thủ tục phục hồi.
Trong vụ việc phá sản, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có thể hòa giải về khoản nợ, phương án phục hồi hoặc các nội dung khác. Thẩm phán có trách nhiệm hòa giải đối với tranh chấp liên quan đến tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong thủ tục phá sản.
Tuy nhiên, không phải mọi vụ việc đều được hòa giải. Nghị quyết loại trừ một số trường hợp như giao dịch vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, một bên đề nghị không hòa giải hoặc các bên đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.
Điểm cần lưu ý là nếu hòa giải thành do Thẩm phán tiến hành, sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên không thay đổi ý kiến, Thẩm phán phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn rõ hơn về chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.
Đối với thủ tục phục hồi, người có quyền nộp đơn được xác định theo loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã. Có trường hợp người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tự mình nộp đơn hoặc ủy quyền cho người khác nộp đơn.
Đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh hoặc hợp tác xã, chủ thể nộp đơn có thể là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, người được Điều lệ hoặc quyết định nội bộ của doanh nghiệp, hợp tác xã xác định.
Đối với thủ tục phá sản, người có nghĩa vụ nộp đơn cũng được xác định tương ứng theo loại hình tổ chức. Đây là điểm rất quan trọng vì trong thực tế, nếu doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán nhưng người có nghĩa vụ không kịp thời nộp đơn, có thể phát sinh rủi ro trách nhiệm pháp lý, đặc biệt nếu việc chậm nộp đơn làm thiệt hại thêm cho chủ nợ, người lao động hoặc bên liên quan.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể về tài liệu phải nộp kèm theo đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, phá sản.
Đối với đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, doanh nghiệp, hợp tác xã cần chuẩn bị các tài liệu quan trọng như:
Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh;
Danh sách chủ nợ, người mắc nợ;
Báo cáo tài chính trong 03 năm gần nhất được kiểm toán theo quy định;
Bản giải trình nguyên nhân dẫn đến tình trạng nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán;
Bảng kê chi tiết tài sản, thông tin và địa điểm tài sản;
Giấy tờ liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã;
Văn bản ủy quyền nếu ủy quyền cho người khác nộp đơn.
Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã tự nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, hồ sơ cần có báo cáo tài chính, bản giải trình nguyên nhân mất khả năng thanh toán, báo cáo kết quả thực hiện các biện pháp khôi phục nếu có, bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ/người mắc nợ, kế hoạch sắp xếp người lao động, tình hình thanh toán lương, bảo hiểm xã hội và nghĩa vụ tài chính khác đối với người lao động.
Việc chuẩn bị hồ sơ có ý nghĩa quyết định. Nếu hồ sơ không đầy đủ, Tòa án có thể yêu cầu sửa đổi, bổ sung. Thời hạn sửa đổi, bổ sung do Tòa án ấn định nhưng không quá 05 ngày làm việc; trường hợp đặc biệt có thể gia hạn nhưng không quá 03 ngày làm việc.
Một vấn đề nhạy cảm trong thủ tục phục hồi, phá sản là xử lý khoản nợ có bảo đảm. Đây thường là khoản nợ của ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc chủ nợ có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
Theo Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm đề xuất Thẩm phán bằng văn bản về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm, thực hiện việc xử lý tài sản và báo cáo kết quả xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc giảm đáng kể giá trị, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải đề xuất ngay với Thẩm phán. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đề xuất, Thẩm phán phải xem xét, quyết định việc xử lý tài sản bảo đảm.
Về mặt thực tiễn, quy định này giúp tránh tình trạng tài sản bảo đảm bị xuống cấp, mất giá hoặc không còn khả năng khai thác. Đồng thời, nó cũng đặt ra yêu cầu rất cao đối với Quản tài viên trong việc đánh giá tình trạng tài sản, xác định thời điểm xử lý và bảo đảm lợi ích hài hòa giữa chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ khác và doanh nghiệp.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể hơn về giao dịch bị coi là vô hiệu trước khi Tòa án mở thủ tục phá sản.
Theo đó, giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản có thể bị coi là vô hiệu nếu thuộc các trường hợp luật định.
Đáng chú ý, Nghị quyết làm rõ giao dịch chuyển nhượng tài sản không theo giá thị trường. Nếu doanh nghiệp là bên chuyển nhượng thì việc bán thấp hơn giá thị trường có thể bị xem xét. Nếu doanh nghiệp là bên nhận chuyển nhượng thì việc mua cao hơn giá thị trường cũng có thể bị xem xét.
Nghị quyết cũng giải thích giao dịch khác nhằm mục đích tẩu tán tài sản là giao dịch cố ý chuyển dịch, che giấu, tiêu hủy tài sản, không thừa nhận quyền sở hữu hoặc xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Tuy nhiên, không phải mọi giao dịch trong 06 tháng trước khi mở thủ tục phá sản đều bị vô hiệu. Một số giao dịch không bị coi là vô hiệu nếu đó là khuyến mại theo quy định pháp luật thương mại, tặng thưởng cho người lao động theo pháp luật lao động, hoạt động từ thiện hợp pháp hoặc giao dịch được Hội nghị chủ nợ công nhận là nhằm bảo toàn, tối ưu giá trị tài sản và không có mục đích tẩu tán tài sản.
Đây là nội dung đặc biệt quan trọng đối với chủ doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp và bên thứ ba giao dịch với doanh nghiệp đang khó khăn tài chính. Nếu giao dịch có dấu hiệu bất thường về giá, đối tượng, thời điểm, người liên quan hoặc mục đích chuyển dịch tài sản, rủi ro bị tuyên vô hiệu là rất lớn.
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, chủ nợ phải cung cấp thông tin cho Quản tài viên để lập danh sách chủ nợ. Thông tin cần cung cấp gồm tên, địa chỉ, quốc tịch, số định danh của chủ nợ hoặc người đại diện hợp pháp; tổng số nợ phải trả; khoản nợ đến hạn; lãi đến hạn chưa thanh toán; nợ chưa đến hạn; nợ có bảo đảm; phương thức bảo đảm; nợ không có bảo đảm và khoản bồi thường theo hợp đồng nếu có.
Việc lập danh sách chủ nợ, người mắc nợ là bước rất quan trọng. Nếu chủ nợ không kịp thời cung cấp thông tin, không chứng minh được khoản nợ hoặc kê khai không đầy đủ, quyền lợi của chủ nợ có thể bị ảnh hưởng trong quá trình Hội nghị chủ nợ, phân chia tài sản hoặc xem xét phương án phục hồi.
Đối với doanh nghiệp, danh sách chủ nợ và người mắc nợ cũng là căn cứ để đánh giá khả năng phục hồi, khả năng thu hồi tài sản, phương án xử lý nợ và thứ tự ưu tiên thanh toán.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản nhằm bảo toàn tài sản, bảo vệ người lao động và bảo đảm việc giải quyết vụ việc.
Các biện pháp đáng chú ý gồm:
Cho bán hàng hóa, tài sản dễ hư hỏng, sắp hết hạn sử dụng hoặc chi phí bảo quản lớn hơn giá trị tài sản;
Cho thu hoạch, bán hoa màu hoặc sản phẩm không thể bảo quản lâu dài;
Kê biên, niêm phong tài sản;
Phong tỏa tài khoản;
Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ;
Niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu liên quan;
Cấm chuyển dịch quyền về tài sản;
Cấm thay đổi hiện trạng tài sản;
Buộc giao, nhận tài sản;
Cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định;
Buộc doanh nghiệp, hợp tác xã tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
Biện pháp khác để bảo toàn tài sản theo quy định pháp luật.
Trong thực tế, biện pháp khẩn cấp tạm thời là công cụ rất quan trọng để ngăn chặn tẩu tán tài sản. Tuy nhiên, người yêu cầu áp dụng biện pháp này phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình. Nếu yêu cầu không đúng và gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba, người yêu cầu có thể phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn rõ hơn về thủ tục phục hồi rút gọn. Thủ tục này có thể được áp dụng khi doanh nghiệp, hợp tác xã có từ 20 chủ nợ không có bảo đảm trở xuống và tổng khoản nợ gốc phải thanh toán từ 10 tỷ đồng trở xuống tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.
Ngoài ra, thủ tục phục hồi rút gọn cũng có thể áp dụng đối với doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hợp tác xã nhỏ, hợp tác xã siêu nhỏ theo quy định pháp luật tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn.
Thủ tục phục hồi rút gọn có ý nghĩa thực tiễn lớn vì giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và tạo cơ hội cho doanh nghiệp khó khăn được cơ cấu lại nhanh hơn. Tuy nhiên, nếu trong quá trình giải quyết xuất hiện tình tiết mới hoặc có căn cứ cho thấy doanh nghiệp không còn đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, Tòa án sẽ chuyển sang thủ tục phục hồi thông thường.
Thủ tục phá sản rút gọn được áp dụng trong một số trường hợp như:
Doanh nghiệp, hợp tác xã có từ 20 chủ nợ không có bảo đảm trở xuống và tổng khoản nợ gốc phải thanh toán từ 10 tỷ đồng trở xuống;
Doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ; hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ;
Doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản hoặc còn tài sản nhưng không thanh lý, thu hồi được hoặc không đủ để nộp lệ phí, tạm ứng chi phí, thanh toán chi phí phá sản;
Tổ chức tín dụng thuộc trường hợp bị tuyên bố phá sản;
Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm thuộc trường hợp luật định;
Trường hợp khác theo quy định pháp luật hoặc hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
Đối với doanh nghiệp không còn tài sản hoặc tài sản không đủ để thanh toán chi phí phá sản, thủ tục rút gọn giúp Tòa án có cơ chế xử lý nhanh hơn, tránh kéo dài vụ việc không còn khả năng phục hồi hoặc thanh lý thực tế.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn một số nội dung liên quan đến thủ tục phá sản tổ chức tín dụng.
Trước khi ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản, Thẩm phán phải kiểm tra việc lập danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản và việc hoàn trả khoản vay đặc biệt mà tổ chức tín dụng đã vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc tổ chức tín dụng khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.
Quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản phải ghi rõ nội dung về hoàn trả khoản vay đặc biệt nếu có. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, quyết định này phải được gửi cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chi nhánh Ngân hàng Nhà nước khu vực nơi tổ chức tín dụng đặt trụ sở chính.
Đây là nhóm thủ tục đặc thù, có liên quan đến an toàn hệ thống tài chính, quyền lợi người gửi tiền, chủ nợ và nghĩa vụ với Ngân hàng Nhà nước.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP ban hành kèm theo các biểu mẫu phục vụ quá trình giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản. Các biểu mẫu này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn vì giúp thống nhất cách soạn đơn, thông báo, quyết định trong thủ tục phục hồi, phá sản.
Một số biểu mẫu đáng chú ý gồm:
Đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp/hợp tác xã;
Đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản doanh nghiệp/hợp tác xã;
Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
Thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi;
Thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản;
Quyết định mở thủ tục phá sản;
Quyết định giải quyết tranh chấp;
Thông báo kết quả hòa giải thành;
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Khi thực hiện thủ tục phục hồi, phá sản, việc sử dụng đúng biểu mẫu, ghi đúng tư cách người nộp đơn, đúng căn cứ pháp lý và đầy đủ danh mục tài liệu kèm theo sẽ giúp hạn chế rủi ro bị yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ.
Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2026.
Đối với các vụ việc phục hồi, phá sản đã được Tòa án thụ lý trước ngày Nghị quyết có hiệu lực nhưng chưa giải quyết xong, Tòa án tiếp tục áp dụng Nghị quyết này để giải quyết.
Tuy nhiên, các trình tự, thủ tục đã thực hiện và các văn bản đã ban hành đúng quy định pháp luật trước ngày Nghị quyết có hiệu lực thì không căn cứ vào Nghị quyết này để thực hiện lại, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn xử lý hồ sơ chuyển tiếp, nhất là các vụ việc phá sản đã được thụ lý, đang giải quyết hoặc đang thi hành quyết định tuyên bố phá sản trước thời điểm Luật Phục hồi, phá sản và Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP có hiệu lực.
Đối với doanh nghiệp đang khó khăn tài chính, Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP cho thấy thủ tục phục hồi không chỉ là thủ tục pháp lý mà còn là cơ hội tái cấu trúc. Doanh nghiệp cần chuẩn bị phương án phục hồi khả thi, danh sách chủ nợ, người mắc nợ, báo cáo tài chính, bảng kê tài sản và bản giải trình nguyên nhân khó khăn.
Đối với chủ nợ, cần theo dõi sát thời điểm Tòa án thụ lý, mở thủ tục phá sản, gửi giấy đòi nợ đúng hạn, cung cấp đầy đủ chứng cứ về khoản nợ, tài sản bảo đảm, lãi phát sinh và quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có dấu hiệu tẩu tán tài sản.
Đối với người lao động, cần lưu ý quyền lợi về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp và các quyền lợi khác. Trong trường hợp cần thiết, có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền lợi chính đáng.
Đối với Quản tài viên, Nghị quyết đặt ra yêu cầu cao về năng lực xác minh tài sản, lập danh sách chủ nợ/người mắc nợ, hòa giải, đề xuất xử lý tài sản bảo đảm, phát hiện giao dịch vô hiệu và bảo toàn tối đa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Cần tư vấn về thủ tục phục hồi, phá sản doanh nghiệp?
Chúng tôi hỗ trợ doanh nghiệp, chủ nợ, người lao động và các bên liên quan trong việc đánh giá khả năng phục hồi, chuẩn bị hồ sơ yêu cầu phục hồi/phá sản, lập phương án xử lý nợ, bảo toàn tài sản, tham gia Hội nghị chủ nợ và thực hiện các thủ tục với Tòa án theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản và Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP.